Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động theo quy định pháp luật

0
509

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà khi hết thời hạn này người sử dụng lao động không có quyền xử lí kỉ luật dối với người lao động. Quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật là đảm bảo tính minh bạch, tính rõ ràng cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của cả hai bên trong quan hệ lao động.

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động thông thường

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 06 tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm. Như vậy, trong thời hạn là 06 tháng, người lao động và người sử dụng lao động phải giải quyết hoàn chỉnh, triệt để kỷ luật lao động đề ra với người lao động. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà người sử dụng lao động không chứng minh được lỗi của người lao động cũng như không đưa ra quyết định kỷ luật, hình thức kỷ luật, trách nhiệm vật chất (nếu có) … thì người sử dụng lao động không có quyền xử lý kỷ luật lao động với người lao động về hành vi lỗi đó nữa.

Các trường hợp kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động

Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 Bộ luật lao động 2012, trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 12 tháng. Trong trường hợp này, thời hiệu xử lý kỷ luật được kéo dài tới 12 tháng bởi trách nhiệm vật chất, mức thiệt hại mà người lao động gây ra trong trường hợp này liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ là khó đoán trước, khó tính toán chính xác được trong vòng 06 tháng.

Thứ hai, đối với các trường hợp người lao động: (i) nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động; (ii) đang bị tạm giữ, tạm giam; (iii) đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động thì khi hết thời gian quy định. Nếu còn thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động thì người sử dụng lao động tiến hành xử lý kỷ luật lao động ngay, nếu hết thời hiệu thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên (khoản 2 Điều 124 Bộ luật lao động 2012). Quy định này hoàn toàn phù hợp bởi lẽ, trong các trường hợp nêu trên, người lao động hoàn toàn không có thời gian, điều kiện để chứng minh mình không có lỗi, do đó, việc quy định bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại sẽ không được khách quan, minh bạch.
Thứ ba, đối với trường hợp Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì khi hết thời gian quy định mà thời hiệu xử lý kỷ luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên. Trên đây cũng là quy định bảo vệ người lao động khi họ không có đủ thời gian, điều kiện để chứng minh lỗi của mình và chứng minh mức bồi thường thiệt hại.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây