Tránh nhiệm trả sổ bảo hiểm của người sử dụng lao động

0
1151
Do nhầm lẫn nên công ty đã trả nhầm cho anh
A tiền trợ cấp thôi việc. Nhưng anh A nói không có tiền trả.Vậy tôi có được giữ sổ bảo hiểm cho đến
khi anh A hoàn trả số tiền nhầm lẫn trên không?



Tóm tắt câu hỏi:

Tôi làm tại phòng hành chính nhân sự của một công ty. Tháng
vừa rồi bên tôi có một nhân viên nộp đơn xin nghỉ việc. Sau khi nộp đơn, nhân viên này đi làm vô tổ
chức, nghỉ việc vô lý do trên 5 ngày. Tôi đã cho nhân viên này nghỉ việc trong hệ thống trước hạn
nên nhóm phụ trách tiền lương đã thanh toán lương và trợ cấp thôi việc cho trường hợp này trong khi
kết quả cuối cùng là nhân viên này bị sa thải do nghỉ việc vô lý do nhiều ngày nên đáng lẽ không
nhận được trợ cấp thôi việc. Như vậy công ty chúng tôi đã trả thừa cho nhân viên này tiền trợ cấp
thôi việc là 6.500.000 đồng. Chúng tôi cũng đã xin lỗi nhân viên này vì sự nhầm lẫn và muốn nhân
viên này hoàn trả lại số tiền trên cho công ty nhưng nhân viên này nói không có tiền trả và muốn
chúng tôi làm thủ tục trả sổ, thanh toán bảo hiểm thất nghiệp cho anh ta trước thì khi có tiền bảo
hiểm xã hội thanh toán, anh ta sẽ trả lại công ty. Nếu chúng tôi làm như vậy thì liệu có bất lợi
cho chúng tôi không? Trong trường hợp này chúng tôi cứ giữ lại sổ bảo hiểm xã hội của nhân viên
này, chờ khi nào anh ta hoàn lại số tiền công ty đã trả thừa cho anh ta rồi mới trả sổ bảo hiểm xã
hội thì có sai luật không? Có cách nào khác để lấy lại tiền đã trả thừa từ anh ta không? Xin chân
thành cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu
hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của V-Law. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan
điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định
tại hoản 3, điều 126  Bộ luật Lao động về việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa
thải:

“Người lao động tự
ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng.”

Khi đó, hợp đồng lao
động chấm dứt, theo quy định tại khoản 8, điều 36,  Bộ luật Lao động.

Điều 48, Bộ luật Lao
động quy định về cách tính trợ cấp thôi việc:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10
Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho
người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một
nửa tháng tiền lương.”

Như vậy, các trường hợp được trợ cấp thôi việc không có khoản 8 Điều 36   Bộ luật Lao
động.Đồng nghĩa với việc công ty bạn không phải trả trợ cấp thôi việc cho nhân viên đó.

Tuy nhiên, theo quy
định tại khoản 1 Điều 18  Luật Bảo hiểm xã hội:

Người sử dụng lao động
có trách nhiệm “bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gian người lao động
còn làm việc
” và “trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm
việc”.

Điều 47, Bộ luật lao
động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao
động:

“1. Ít nhất 15 ngày
trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng
văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn
07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ
các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không
được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng
lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ
khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Tránh nhiệm trả sổ bảo hiểm của người sử dụng lao động

Vì vậy, trong trường hợp của bạn, nên trình bày sự
việc bằng văn bản, có xác nhận của người đại diện theo pháp luật chấp nhận lý do trả nhầm số
tiền trợ cấp thôi việc để thỏa thuận với người sử dụng lao động. Đồng thời, bạn phải hoàn tất,
không được chậm trễ trong việc trả lại sổ bảo hiểm cho người lao động.

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn
phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên
quan đến sự việc bạn có thể liên hệ để được giải đáp.

Lưu ý: Ý kiến của Luật sư, văn bản pháp luật được
trích dẫn trong tư vấn nêu trên có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm tham khảo bài viết. Để được tư
vấn, lắng nghe ý kiến tư vấn chính xác nhất và mới nhất từ các Luật sư vui lòng liên hệ với chúng
tôi qua Hotline: 1900.6198. Các Luật sư chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm của
chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ bạn ngay lập tức.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây