Người lao động nghỉ phép: thực hiện sao cho đúng?

0
879

Thực tế, trong quá trình làm việc, người lao động có thể vì nhiều lý do mà nghỉ một vài ngày hoặc nhiều ngày trong tháng. Số ngày nghỉ này sẽ ảnh hưởng tới nhiều hoạt động của doanh nghiệp, đơn cử như việc đóng bảo hiểm xã hội.

Bài tư vấn pháp luật lao động được thực hiện bởi: Luật gia Nguyễn Tiến Dũng – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

– Người lao động nghỉ phép hằng năm như thế nào?

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012, người lao động được nghỉ phép năm và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động với thời gian:

Tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc nếu làm việc dưới 12 tháng; 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt; lao động chưa thành niên; người khuyết tật; 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt.

Đáng chú ý, người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ phép năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

Liên quan đến việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, khoản 3 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có nêu:

Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội đó.

Đối chiếu quy định này, có thể thấy, việc người lao động nghỉ phép năm không ảnh hưởng tới việc đóng bảo hiểm xã hội, dù người lao động có nghỉ nhiều ngày trong cùng một lần.

– Người lao động được nghỉ việc riêng?

Cũng theo Bộ luật Lao động năm 2012, cụ thể Điều 116, người lao động được:

Nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp: Kết hôn; Con kết hôn: Nghỉ 01 ngày; Bố/mẹ đẻ, bố/mẹ vợ hoặc bố/mẹ chồng chết; vợ/chồng chết; con chết: Nghỉ 03 ngày.

Nghỉ việc riêng mà không hưởng lương: Ông/bà nội, ông/bà ngoại, anh/chị/em ruột chết; bố/mẹ kết hôn; anh/chị/em ruột kết hôn: Nghỉ 01 ngày. Trường hợp khác: Theo thỏa thuận.

Cũng căn cứ theo khoản 3 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Như vậy, với những lao động không làm việc và không hưởng tiền lương dưới 14 ngày thì doanh nghiệp vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội như thường lệ. Ngược lại, với những lao động không làm việc và không hưởng tiền lương trên 14 ngày, doanh nghiệp không phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời gian này.

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây