Tư vấn trường hợp công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

0
1240

Nội dung tư vấn:

Tôi làm việc cho công ty từ ngày 11 tháng 03 năm 2015 không có hợp đồng và các chế độ khác, với mức lương thoả thuận là 13.000.000 đồng/tháng/26 ngày, phụ cấp tàu xe 700.000đồng/ 2 tháng. Đến ngày 01 tháng 03 năm 2016 công ty ký hợp đồng lao động loại hợp đồng không thời hạn lương trong hợp đồng là 4.960.000đồng/tháng/26 ngày nhưng lương thoả thuận thực tế trả cho tôi là 11.000.000đ/tháng/26 ngày cộng với 700.000đồng/ 2 tháng và phụ cấp tiền ăn 45.000 đồng/ ngày.

Ngày 15 tháng 07 năm 2016 công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng tôi
không hay biết và không rõ lý do, dù cho trong suốt thời gian làm việc tôi đều hoàn thành công việc
được giao và tuân thủ nghiệm túc quy định của công ty không vi phạm kỷ luật.

–  Công ty thực hiện như vậy có đúng không?

–  Quyền lơị của tôi được hưởng như thế nào, cụ thể giúp
tôi?

–  Thủ tục làm gì, cơ quan nào giải quyết?

Xin chân thành cảm ơn V-law

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư
vấn đến V-law, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc công ty đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động. Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo
hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên
tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên
tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp
đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất
định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động
được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác
theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn
buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn
quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao
động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định
thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời
hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng”.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp
đồng với người lao động trong những trường hợp luật định, có lý do rõ ràng và phải báo cho người
lao động biết trước một khoảng thời gian nhất định. Đối với trường hợp công ty đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước cho bạn cũng như không đưa ra được một
trong những căn cứ như trên là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
luật.

Thứ hai, về quyền lợi của người lao động và nghĩa
vụ của người sử dụng lao động, Điều 42 Bộ luật lao động 2012 quy định:

” Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao
động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao
động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì
ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp
thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người
lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và
trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi
thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng
lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp
đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại
khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải
bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong
những ngày không báo trước”.

Trường hợp của bạn, người sử dụng lao động đã vi phạm cả căn cứ
chấm dứt hợp đồng lao động và thời gian báo trước, do đó bạn sẽ được hưởng các quyền lợi
sau:

Một là , được nhận trở lại làm việc, được trả tiền
lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày bạn không được làm việc và khoản tiền bồi
thường ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động; Nếu không còn vị trí,
công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền
bồi thường trên, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động;

+ Nếu công ty nhận bạn trở lại làm việc nhưng bạn không
muốn quay trở lại làm việc thì hợp đồng lao động cũng theo đó chấm dứt, ngoài
khoản tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và khoản tiền bồi thường như trên, bạn còn được
nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động, mỗi năm làm việc được hưởng trợ
cấp bằng một nửa tháng tiền lương. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 47, khoản
1 Điều 114 Bộ luật lao động 2012, bạn còn được thanh toán các khoản tiền thưởng, tiền lương
những ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ hết, tiền lương tháng mà công ty chưa thanh toán, được
trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà công ty đã giữ lại của bạn (nếu
có);

+ Nếu công ty không muốn nhận bạn trở lại làm việc và bạn cũng
không muốn quay lại làm việc thì ngoài tất cả các quyền lợi như trên, bạn còn được nhận
thêm một khoản tiền bồi thường ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Hai là , được bồi thường một khoản tiền tương ứng với
tiền lương của bạn trong những ngày không được báo trước, cụ thể là tiền lương trong 45 ngày
không báo trước.

Thứ ba,  để đòi quyền lợi của mình bạn
có thể làm đơn yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ, nếu công ty không thực hiện nghĩa vụ, bạn
có thể:

–  Làm đơn nhờ sự can thiệp của tổ chức công đoàn cơ sở. Khi
đó, tổ chức công đoàn sẽ phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp để cùng với tổ chức đại
diện của người sử dụng lao động (nếu có) thương thảo, đối thoại, hợp tác nhằm hỗ trợ giải
quyết vấn đề vì Công đoàn có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động theo quy
định tại Điều 188 Bộ luật Lao động 2012.

– Làm đươn ra phòng lao động thương binh xã hội cấp quận/huyện nơi
doanh nghiệp đang có trụ sở để đề nghị hòa giải.

– Nếu như sự tham gia của công đoàn không có hiệu quả thì bạn có
thể làm đơn khởi kiện công ty ra Toà án nhân dân cấp huyện nơi công ty hoạt động để toà
án bảo vệ quyền lợi cho bạn. Về thủ tục khởi kiện vụ án lao động, bạn vui lòng tham khảo bài
viết: Tư vấn khởi kiện vụ án lao động.

Trên đây là nội dung tư vấn của V-law về vấn đề bạn
yêu cầu tư vấn: Tư vấn trường hợp công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến –
Số điện thoại liên hệ  1900.6198 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây