Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

0
1238

Nội dung câu hỏi:

Em có một vấn đề muốn xin được bên quý công ty tư vấn ạ.- Vào tháng 11/2016 em vào thử việc tại 1 công

ty- Đến tháng 1/2017 em được kí hợp đồng chính thức nhưng đến tháng 4/2017 em mới được đóng hợp
đồng bảo hiểm. Sau đó tháng 5/2017 em có việc gia đình nên xin công ty nghỉ. Em xin trên skype
nội bộ của công ty. Sếp OK duyệt nghỉ và đề nghị bàn giao cho chị A. Nhưng do có việc gấp nên em
nghỉ luôn sau ngày xin phép 1 ngày. Thủ tục bàn giao đã đầy đủ. Các bộ phận đã ký nhận.- Sau 1
tháng kể từ ngày em nghỉ công ty có gửi giấy yêu cầu bồi thường thiệt hại do nghỉ không báo trước
45 ngày làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Nếu không bồi thường sẽ kiện ra cơ quan pháp
luật. Xin hỏi quý công ty Luật Việt em phải xử lý thế nào cho hợp lý và đúng luật
ạ?  Em rất mong được nhận phản hồi từ quý công ty. Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu
hỏi tới V-Law, với thắc mắc của bạn chúng tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 37 Luật Lao động 2012 về quyền
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời
hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc
không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn
đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp
tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được
bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục
đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng
đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời
hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại
khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại
các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít
nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có
thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều
này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời
hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ
luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định
thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động
biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Điều 43 Luật Lao động 2012 quy định về nghĩa vụ của người lao động
khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử
dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường
cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những
ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo
quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Như vậy, căn cứ theo các quy định của pháp luật về lao động, nếu đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì tùy thuộc vào loại hợp đồng lao động, người
lao động có nghĩa vụ phải báo trước cho người sử dụng lao động một khoảng thời gian phù hợp. Với
hợp đồng lao động không xác định thời hạn là 45 ngày, với hợp đồng lao động xác định thời hạn thuộc
trường hợp “bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng
lao động”
là 30 ngày).

Trong trường hợp của bạn, nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng thì bạn
phải báo trước cho công ty của mình. Nếu vi phạm quy định về thời gian báo trước thì bạn phải bồi
thường cho công ty theo quy định tại Khoản 2 Điều 43 Luật Lao động 2012. Bạn phải bồi thường cho
công ty một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo
trước.

Trên đây là nội dung tư vấn của V-Law về vấn đề bạn hỏi và
quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi
đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng
tôi –
Số điện thoại liên
hệ:
1900.6198

để được hỗ trợ kịp thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây