Nghỉ việc không lý do có bị coi là người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

0
1182

Luật sư tư vấn về việc cá nhân nghỉ không thông báo với cấp trên và bị phạt tiền có đúng với quy định của pháp luật, tự ý nghỉ việc có bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay không?

Nội dung tư vấn:

Xin chào văn phòng luật sư minh gia! Thứ nhất! Tôi đang làm  việc tại
một công ty. trong quá trình làm việc tại công ty  tất cả công nhân nghỉ không thông báo
với cấp trên hoặc có thông báo và không xin được  giấy phép (chữ kí của giám đốc sản xuất
người nước ngoài). Đã  bị phạt, bị trừ vào lương là 300nghìn 1 ngày/1 người. Tôi xin hỏi sự
việc trên có đúng với pháp luật không?  Thứ hai! Sau 1 thời gian làm việc tại công ty đó,
vì lý do sức khỏe tôi đã viết đơn  xin nghỉ việc. Theo quy định thì tôi phải làm 45 bàn giao
công việc. Trong 45 ngày đó tôi có nghỉ 6 ngay không báo với cấp trên. Tôi có đi làm lại nhưng phía
công ty gạch tên của tôi và thông báo tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng! Công ty không trả
lương,  sổ bảo hiểm và quyết định cho nghỉ việc thì  3 tháng sau mới lấy được? Tôi xin
hỏi theo luật như vậy  có đúng không? Vấn đề nữa là 6 ngày  tôi nghỉ không báo với quản
lý  có được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng không? Xin chân thành cảm ơn
ạ!

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho V-Law, trường hợp của bạn chúng
tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc trừ lương có đúng pháp luật hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 101 Bộ luật lao động 2012 quy định về việc khấu trừ lương thì:

“Điều 101. Khấu trừ tiền lương

1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường
thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 130
của Bộ luật này.

2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.

3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao
động sau khi trích nộp c
ác khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, thuế thu nhập.”

Việc công nhân nghỉ không thông báo với cấp trên hoặc có thông báo và không xin được giấy phép
không thuộc trường hợp người sử dụng lao động được phép khấu trừ lương của người lao động. Do đó,
việc công ty khấu trừ lương là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, bạn có thể kiến
nghị với công ty về vấn đề này.

Thứ hai, về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Căn cứ Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của
người lao động thì:

“Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều
kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp
đồng lao động

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao
động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong
bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc
theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc
theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà
khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao
động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1
Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu
là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối
với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử
dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45
ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Theo quy định này, việc công ty lấy lý do nghỉ 6 ngày để thông báo chị đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động là không phù hợp với quy định của pháp luật vì chị đã thông báo trước 45 ngày và 6
ngày này là do chị nghỉ không phép mà không phải là thời gian thông báo đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động đối với chị.  Như vậy, công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các
khoản liên quan đến quyền lợi của chị và hoàn thành thủ tục xác nhận, trả lại sổ bảo hiểm xã hội và
những giấy tờ khác mà công ty đã giữ cho chị, nếu phía công ty không chi trả chị có quyền yêu cầu
Phòng Lao động Thương binh và xã hội hoặc Tòa án để nhờ can thiệp và giúp đỡ.

Trên đây là nội dung tư vấn của V-Law về vấn đề bạn hỏi và
quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi
đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng
tôi –
Số điện thoại liên
hệ:
1900.6198
 để được hỗ trợ kịp
thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây