Nghĩa vụ người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

0
1208
Nghĩa vụ người sử dụng lao động khi chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.


Tóm tắt câu hỏi:

Tôi có thời gian công tác từ năm 1981 hiện tôi đang
công tác tại một Công ty cồ phần A, vào tháng 08/2016 tôi nhận 02 quyết định như
sau:

1/ Quyết định của Công ty A chuyển công tác CB-CNV
sang một Công ty cổ phần B mới do Công ty A sáng lập.

2/ Quyết định trợ cấp 06 tháng lương thực lĩnh
liền kề của Công ty A cho CB-CNV chuyển công tác sang đơn vị mới = 300 triệu.

Ngày 29/08/2017 tôi nhận quyết định bổ nhiệm làm
Giám đốc Nhân Sự Công ty B. Ngày 01/09/2016 Công ty cổ Phần B ký hợp đồng lao động không kỳ hạn đối
với tôi. Tôi làm hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đến ngày 17/10/2016 tôi nhận được thông
báo chấm dứt hợp đồng lao động trước 45 ngày. Đến ngày 01/01/2017 tôi nhận quyết định chấm
dứt hợp đồng lao động. Công ty B không trả trợ cấp thôi việc cho tôi xin hỏi Luật sư có đúng
không? Công ty B chấm dứt hợp đồng lao động có trái với pháp luật không? Xin chân thành cám
ơn.

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến V-Law. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như
sau:

Căn cứ Điều 38 Bộ Luật Lao động năm 2012 quy
định việc chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành
công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị
12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06
tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời
hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì
người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất
khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc
phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc
sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động
không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác
định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Theo quy định trên, công ty B muốn chấm dứt hợp
đồng lao động với bạn thì phải đảm bảo 02 điều kiện:

+ Lý do chấm dứt hợp đồng lao động là một trong các
lý do theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động 2012.

+ Thời hạn báo trước theo quy định tại Khoản 2 Điều
38 Bộ luật lao động 2012.

Do đó, nếu công ty B chấm dứt hợp đồng lao động với
bạn chỉ báo trước 45 ngày, không có lý do chính đáng thì việc công ty B chấm dứt hợp đồng lao
động với bạn là trái pháp luật. Khi đó, công ty B phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định
tại

Điều
42
như
sau:

“Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động
khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc
theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong
những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng
lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục
làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải
trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn
nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại
khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận
khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để
chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã
giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi
thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao
động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo
trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao
động trong những ngày không báo trước.”

Để đảm bảo quyền lợi cho bạn, bạn nên làm đơn kiến nghị gửi tới Phòng lao
động thương binh xã hội cấp huyện nơi công ty có trụ sở hoạt động để yêu cầu giải
quyết.

Lưu ý: Ý kiến của Luật sư, văn bản pháp luật được
trích dẫn trong tư vấn nêu trên có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm tham khảo bài viết. Để được tư
vấn, lắng nghe ý kiến tư vấn chính xác nhất và mới nhất từ các Luật sư vui lòng liên hệ với chúng
tôi qua Hotline: 1900.6198. Các Luật sư chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm của
chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ bạn ngay lập tức.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây