Quyền lợi của nhân viên khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động?

0
1251

Câu hỏi đề nghị tư vấn:

Chào quý luật gia, Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty nước ngoài và đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn đã lâu. Trong qua trình làm việc gần đây công ty đang mong muốn điều chỉnh lại mức lương và chế độ quyền lợi tôi được hưởng khi tôi đã kí hợp đồng trước đây theo xu hướng giảm để giảm chi phí trả lương nhân viên.

Tôi đang đi theo hướng là sẽ không chấp nhận  đồng ý điều chỉnh và để công ty thực hiện đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động  quy định để tuyển một nhân viên mới thay thế. Cho tôi
hỏi: 1 – Công ty có đền bù hợp đồng đối với tôi khi chấm dứt hợp đồng lao động. 2 – Công ty có
trợ cấp thôi việc cho tôi không? 3. Nếu có trợ cấp thôi việc, thì số tiền trợ cấp được tính như thế
nào? Mong sớm nhận được thông tin phản hồi. Cám ơn

Trả lời tư vấn:

Chào anh/chị! Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến V-Law, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

– Thứ nhất, đôi với việc bồi thường khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ 

Do bạn chỉ đưa ra trường hợp giả định và không nói rõ công ty chấm dứt HĐLĐ vì lý do nào nên không
thể đưa ra khẳng định việc công ty có phải bồi thường cho bạn hay không. Theo đó, để giải quyết
việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng sẽ áp dụng quy định của Bộ luật lao động để xử
lý. Cụ thể:

Điều 38. 

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường
hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp
đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm
theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm
theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà
khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao
kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà
người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm
chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật
này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao
động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12
tháng.

Như vậy, nếu công ty đơn phương chấm dứt thuộc một trong các trường hợp trên và tuân thủ
thời hạn báo trước tương ứng với loại hợp đồng lao động giao kết thì không phát
sinh nghĩa vụ bồi thường cho bạn (vì là đơn phương đúng quy định). Tuy nhiên, nếu việc đơn
phương không thuộc một trong các lý do trên thì sẽ phát sinh nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại
Điều 42 Bộ luật này.

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả
tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng
với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy
định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều
48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng
ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định
tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng
02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao
động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên
thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động
một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo
trước.

-Thứ hai, về trợ cấp thôi việc

Do bạn không cung cấp rõ về quá trình làm việc của bạn bắt đầu từ thời điểm nào nên không thể xác
định bạn có được hưởng trợ cấp thôi việc từ công ty khi chấm dứt HĐLĐ hay không. Theo đó, bạn sẽ
đối chiếu quy định sau với trường hợp của mình để biết mình có được hưởng trợ cấp và mức hưởng cụ
thể:

Điều 48. 

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều
36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người
lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa
tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc
thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp
theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả
trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06
tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Anh/chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây