Quy định về tiền thưởng cho người lao động

0
1817

Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Tiền thường có tác dụng kích thích mạnh mẽ người lao động phấn đấu và sáng tạo trong quá trình lao động, bảo đảm sự công bằng trong lĩnh vực trả lương. Vậy pháp luật quy định tiền thưởng như thế nào?

Quy định về tiền thưởng
Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Tiền thưởng là gì?

Tiền thưởng được hiểu là khoản thù lao bổ sung cho tiền lương để trả cho những yếu tố mới phát sinh trong quá trình lao động ( tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, sáng kiến…) chưa tính đến trong mức lương theo chức danh hoặc theo công việc.

Bộ luật Lao động năm 2019 đã có sự đổi mới trong các hình thức thưởng cụ thể tại Điều 104:”Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.”

Vậy, người sử dụng lao động có thể sử dụng nhiều hình thức để thưởng cho người lao động: có thể là tiền, có thể là tài sản, có thể là hình thức khác. Mà không phải chỉ thưởng bằng tiền như quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012.

Quy chế  về tiền thưởng trong doanh nghiệp hiện nay

Căn cứ chung đối với mọi doanh nghiệp

Việc thưởng cho người lao động hay không là quyền của người sử dụng lao động. Căn cứ chung để xác định tiền thưởng cho người lao động là kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của người sử dụng lao động và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Những vấn đề cụ thể như nguyên tắc, các trường hợp, tiêu chuẩn, thời gian,mức, cách thức, nguồn kinh phí thực hiện…thưởng sẽ được quy định trong quy chế của doanh nghiệp.
Cũng có những trường hợp, tiền thưởng của người lao động sẽ được thỏa thuận ghi trong thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao động của hai bên.

Căn cứ đối với doanh nghiệp nhà nước

Riêng vấn đề tiền thưởng trong các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện theo quy định của Chính phủ nhằm một mặt bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, mặt khác tranh tình trạng lợi dụng để tham nhũng, lãng phí, chi tiêu tài chính không hợp lý.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật lao động, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Các tình huống minh họa

Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số tình huống để giải quyết thắc mắc liên quan đến vấn đề thưởng của người lao động như sau:

Tình huống 1: Thưa Luật sư, em bắt đầu nghỉ thai sản từ tháng 11/2018. Xin luật sư tư vấn trong trường hợp này em có được hưởng tiền thưởng Tết tháng 13 từ công ty hay không? Nếu có thì sẽ được tính như thế nào ạ ?

Khi bạn nghỉ hưởng thai sản thì bạn sẽ nhận được trợ cấp thai sản của cơ quan bảo hiểm xã hội.Lương tháng thứ 13 tức tiền thưởng được quy định tại Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) như sau:“1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.”

Từ quy định này, việc bạn có được hưởng lương tháng thứ 13 hay không, nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp năm đó và được chi trả dựa theo quy chế của doanh nghiệp.

Tình huống 2:Tôi hiện đang công tác trong ngành du lịch dịch vụ, mức lương hiện hành là 6,000,000 mỗi tháng chưa tính thêm bonus (service charge) .

Vừa qua tôi có sai phạm nhỏ trong công việc và đã bị trưởng bộ phận phạt cảnh cáo miệng bằng văn bản. Theo quy định công ty, hình thức phạt này không có giá trị để khấu từ tiền bonus hằng tháng. Tuy nhiên mới đây trưởng phòng nhân sự công ty tôi lại tự ý khấu trừ 100% lương bonus của tôi mà không có bất kì văn bản nào cũng như không hề có sự đồng ý của tôi. Chỉ khi tôi nhận được lương mới biết mình hoàn toàn bị trừ 100% tiền dịch vụ (3,000,000) . Vậy trong trường hợp này, tôi muốn hỏi quý công ty tiền bonus có được tính như lương hợp đồng hay không? (Theo tôi được biết người sử dụng lao động không được tự ý khấu trừ quá 30% tiền lương của người lao động) Tôi có nên khiếu nại công ty tôi về việc tự ý khấu trừ này? Và công ty tôi xử lý như vậy có phải trái với luật lao động hay không? Mong nhận được hồi âm sớm từ quý công ty. Tôi xin cảm ơn.

Trả lời: Cám ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi , với yêu cầu của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, tiền thưởng có được tính là lương hợp đồng hay không?

Căn cứ theo quy định tại điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ- CP quy định về tiền lương:

Điều 21. Tiền lương

1. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để thực hiện công việc nhất định, bao gồm:

a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

b) Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh;
c) Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.

2. Tiền lương trả cho người lao động được căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã thực hiện.”

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì tiền thưởng của người lao động không được tính là tiền lương được ghi trong hợp đồng lao động.

Thứ hai, người sử dụng lao trừ tiền thưởng của người lao động trong trường hợp người lao động có sai phạm trong công việc

Do thông tin bạn cung cấp không rõ ràng về lỗi sai phạm cũng như hành vi sai phạm chỉ bị người sử dụng lao động nhắc nhở bằng miệng hay văn bản. Trong trường hợp người lao động bị nhắc nhở hoặc bị lập biên bản nhiều lần về hành vi sai phạm trong quá trình làm việc thì người sử dụng lao động có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật tương ứng với từng hành vi. Theo đó, điều 124 Bộ luật Lao động 2019 quy định các hình thức xử lý kỷ luật lao động gồm: (i) Khiển trách; (ii)Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.(iii) Cách chức. (iv) Sa thải.”

Như vậy, đối với trường hợp của bạn nếu chỉ bị nhắc nhở một lần thì chưa phải chịu các hình thức kỷ luật. Hơn nữa, trong các hình thức xử lý kỷ luật không có quy định về việc người sử dụng lao động được phép trừ tiền lương, tiền thưởng của người lao động, vì vậy việc công ty bạn tự ý trừ tiền thưởng của bạn là sai so với quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn khiếu nại lên công ty yêu cầu giải thích đối với trường hợp tự ý trừ tiền thưởng hàng tháng của mình.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây