Tư vấn trường hợp hoãn thực hiện hợp đồng lao động

0
1296

Nội dung câu hỏi:

Tôi làm tại công ty và đến tháng 11/2013, công ty ra quyết định tạm thời thôi việc đối với tôi. Từ đó đến nay vẫn chưa chấm dứt hợp đồng lao động đối với tôi. Vậy tôi xin hỏi luật sư tư vấn giúp tôi như sau

 – Công ty không chấm dứt hợp đồng với tôi là sai
hay đúng. Tôi có cần làm đơn xin làm lại nếu tôi muốn không hay công ty phải có công văn
giải quyết việc làm cho tôi.

–  Nếu tôi đơn phương chấm dứt hợp đồng thì có được
hưởng chế độ gi không?

–  Tôi không được hưởng trợ cấp thất nghiệp do công ty
chưa chấm dứt hợp đồng với tôi thì công ty có phải bồi thường không?

– Về BhXh của tôi, từ 2013 đến nay 2016, tôi không đóng thêm,
công ty cũng không có bất kỳ thông báo nào với tôi. Hiện tại, tôi muốn lấy sổ nhưng công
ty không trả, cũng không chốt sổ cho tôi từ 2013 đến nay. Vây, công ty có sai không và
tôi muốn lấy sổ Bhxh thì phải làm thế nào. Mong luật sư trả lời sớm giúp tôi, tôi
xin cảm ơn!

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghi tư
vấn đến V-law, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Về việc tạm thời thôi việc, pháp luật lao động hiện hành quy định 2
trường hợp tạm thời thôi việc bao gồm trường hợp hoãn thực hiện hợp đồng lao động tại Điều 32 Bộ
luật lao động hoặc tạm đình chỉ công việc để điều tra, xác minh vi phạm của người lao động (Điều
129 Bộ luật lao động). Như bạn trình bày, công ty ra quyết định tạm thời thôi việc nhưng bạn không
có ý kiến về việc này đồng nghĩa với việc bạn đã đồng ý với quyết định đó, đây được coi là
trường hợp hoãn thực hiện hợp đồng theo thảo thuân của các bên. Và theo quy định của pháp luật, sau
khi hết thời hạn tam hoãn thực hiện hợp đồng thì công ty phải nhận bạn trở lại làm việc, bạn không
cần làm đơn xin làm lại mà công ty phải có trách nhiệm sắp xếp việc làm cho bạn.

Về bảo hiểm thất nghiệp, như đã trình bày ở trên, bạn đã có thỏa
thuận về việc hoãn thực hiện hợp đồng do đó bạn không có căn cứ để yêu cầu công ty bồi thường thiệt
hại.

Về sổ bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động chỉ có trách nhiệm
trả lại sổ bảo hiểm và thanh toán các khoản tiền cho bạn khi chấm dứt hợp đồng lao động. Ở đây hợp
đồng lao động giữa bạn và công ty vẫn tồn tại, chưa chấm dứt mà chỉ là tạm hoãn thực hiên do đó
việc công ty không trả lại sổ bảo hiểm xã hôi cho bạn là không vi phạm pháp luật. Bạn chỉ được nhận
lại sổ bảo hiểm xã hội khi hợp đông lao động đã chấm dứt. Để chấm dứt hợp đồng lao động, bạn có
thể:

– Bạn có thể gửi văn bản yêu cầu công ty giải trình về việc hoãn
thực hiện hợp đồng lao động. Nếu vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ hoặc vì lý do kinh tế thì theo
quy định tại Điều 44 Bộ luật lao động, công ty phải có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án
sử dụng lao động, trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục
sử dụng. Trong trường hợp công ty không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động
thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho bạn, mỗi năm được trợ cấp 1 tháng tiền lương nhưng
ít nhất bằng 2 tháng tiền lương (Điều 49 Bộ luật lao động).

– Nếu không phải vì lý do kinh tế hoặc vì lý do thay đổi cơ
cấu công nghệ, bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu hợp đồng lao động là hợp
đồng không xác định thời hạn thì bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần có
lý do cụ thể, chỉ cần đáp ứng điều kiện về thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45
ngày trước khi nghỉ việc. Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, bạn phải có một trong các
căn cứ quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động và báo trước cho ngươi sử dụng lao động ít nhất
30 ngày trước khi nghỉ việc.

Điều 37 quy đinh:

“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định
thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau
đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc
hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời
hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao
động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp
tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc
được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên
tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp
đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có
thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.”

Chỉ khi bạn chấm dứt hợp đồng lao đông mà có một trong những căn cứ
trên thì mới được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, khi đó, ngoài khoản
tiền lương, tiền thưởng mà công ty chưa thanh toán hết cho bạn, bạn còn được nhận một khoản tiền
trợ cấp thôi việc, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương (Điều 48 Bộ luật lao
động).  Ngược lại, nếu chấm dứt hợp đồng lao động không theo một trong các căn cứ trên thì
được coi là chấm dứt hợp đông lao động trái pháp luật và hậu quả pháp lý theo quy định tại Điều 43
Bộ luật lao động là:

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người
sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi
thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong
những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động
theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

Như vậy, nếu bạn chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì bạn
sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc, ngoài ra còn phải bồi thường những khoản tiền như trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của V-law về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn trường hợp hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác
bạn vui lòng liên hệ gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến –
Số điện thoại liên hệ
1900.6198
để được giải đáp, hỗ trợ kịp
thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây