Tư vấn bảo hiểm cho người lao động khi nghỉ việc

0
1210

Tóm tắt câu hỏi:

Cho em hỏi nếu công nhân trong công ty em xin nghỉ việc tháng 09/2017. Và bên công ty em đã cho phép nghỉ việc và thực hiện thủ tục báo giảm cho người lao động từ tháng 09/2017.

Vì nộp đơn báo giảm sau ngày 02/09/2017 nên công ty bảo hiểm trừ
tiền thẻ 4.5%. Phần này em trừ trực tiếp vào lương của người lao động hay sao ạ? Trường hợp
người lao động không có tiền lương của tháng 09/2017 đó thì mình xử lý như thế nào ạ? Trường hợp
công nhân khác nghỉ không lương 2 tháng 09+10/2017. Sang tháng 11/2017 đi làm lại thì tháng 11
khi tính lương mình trừ 4.5% tiền thẻ cho cả 2 tháng đã nghỉ không lương phải không ạ?. Trường hợp
sau khi nghỉ không lương rồi người lao động xin nghỉ việc luôn thì phần trừ tiền thẻ 4.5% mình xử
lý như thế nào ạ? Mong công ty Luật Việt tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!

Trả lời tư vấn:  .

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi
câu hỏi tư vấn đến V-Law, đối với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Điều 85. Mức đóng và phương thức đóng của người lao
động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

2. Người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật
này, mức đóng và phương thức đóng được quy định như sau:

a) Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức
tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối
với người lao động đã có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương
cơ sở đối với người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần;

b) Phương thức đóng được thực hiện 3 tháng, 06 tháng, 12 tháng
một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người lao động
trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp
đồng lao động mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo phương
thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội sau khi về nước.

3. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ
14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không
được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

4. Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản
1 Điều 2 của Luật này mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì
chỉ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này đối với hợp đồng lao động
giao kết đầu tiên.

6. Việc xác định thời gian đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng
lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng thì một năm phải tính đủ 12 tháng; trường hợp người lao động
đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu tối đa 06 tháng
thì người lao động được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng hằng tháng bằng tổng
mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất.

7. Việc tính hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong trường
hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ được tính như sau:

a) Từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm;

b) Từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.

Như vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
trong tháng 9, tùy vào số ngày người lao động làm việc và hưởng lương để xác định người lao động có
phải đóng bảo hiểm hay không. Về mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội bạn căn cứ vào khoản
2 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Về vấn đề người lao động nghỉ không lương 2 tháng, tháng thứ 3 đi
làm lại. Trường hợp này vẫn căn cứ vào khoản 3 Điều 85 để giải quyết. Cụ thể , người lao động sẽ
không phải đóng bảo hiểm trong 2 tháng đó

Trên đây là nội dung tư vấn của V-Law về vấn đề bạn hỏi và
quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi
đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng
tôi –
Số điện thoại liên
hệ:
1900.6198

để được hỗ trợ kịp thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây