Tìm hiểu về thương lượng tập thể

0
478
Rate this post

Bài viết bình luận quy định của Bộ luật lao động về thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể.

làm giả hồ sơ
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật nêu trên gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia

Điều 72 Bộ luật lao động năm 2019 là điều luật khá đặc biệt, toàn bộ hoạt động về thương lượng tập thể ngành, thương lượng có chiều doanh nghiệp tham gia được quy định trong một điều luật.

Bản chất thương lượng ngành cũng là một trường hợp của thương lượng có nhiều doanh nghiệp tham gia, song trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, nó được tách thành một trường hợp với một số quy định riêng. Tại thời điểm hiện nay tổ chức của người lao động không thuộc hệ thống Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, mới chỉ được thành lập và hoạt động ở cấp doanh nghiệp. Ở cấp ngành mới chỉ có hệ thống công đoàn ngành thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, nên quy định riêng đối với thương lượng ngành trong Điều 72 chỉ là quy định về chủ thể bên người lao động trong trường hợp thương lượng ngành được chỉ rõ là công đoàn ngành. Đối với các nội dung khác, điều luật quy định áp dụng chung đối với cả thương lượng ngành và thương lượng có nhiều doanh nghiệp tham gia.

Về nguyên tắc, nội dung thương lượng, khoản 1 Điều 72 đưa ra quy định riêng đối với thương lượng tập thể ngành, thương lượng có nhiều doanh nghiệp tham gia, mà thực hiện theo các nguyên tắc chung của thương lượng được quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật lao động

Đối với các nội dung khác, các quy định của Điều 72 là tôn trọng tối đa sự tự nguyện trong thương lượng tập thể nên đã trao quyền cho các bên thương lượng tự quyết định trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, cụ thể:

(i) Quy trình tiến hành thương lượng ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định. Điều này có nghĩa là việc thương lượng như thế nào hoàn toàn do chính các bên tự xác định với nhau. Pháp luật không quy định về quy trình các bên phải theo mà chỉ ghi nhận và tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận đó.

(ii) Đại diện thương lượng cũng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận. Riêng đối với thương lượng ngành thì do chủ thể thương lượng đã được xác định là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành nên điều luật quy định trao quyền cho những chủ thế này quyết định về đại diện thương lượng.

Thương lượng ở các cấp ngoài doanh nghiệp rất đa dạng, nó có thể là theo ngành, nghề hoặc theo địa lý vùng, miền hoặc cũng có thể chỉ là một nhóm doanh nghiệp theo một ngành, nghề hoặc khu vực địa lý nào đó. Mỗi mỗi phạm vi, cấp độ thương lượng khác nhau lại có thể có quy trình, chủ thể và đại diện thương lượng khác nhau, nên các quy định của Điều 72 là các quy định phù hợp, theo đó, pháp luật không đưa ra những quy định cụ thể về quy trình, chủ thể, đại diện thương lượng mà trao quyền cho các bên quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận. Các quy định này vừa bảo đảm phù hợp với nguyên tắc tự nguyện của thương lượng tập thể, vừa bảo đảm phù hợp với tính đa dạng của thương lượng tập thể ở các cấp ngoài doanh nghiệp.

Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể

Điều 73 Bộ luật lao đông quy định về một cách thức thương lượng cụ thể của thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia với sự tham gia, điều phối và hỗ trợ của bên thứ ba là Nhà nước thông qua Hội đồng thương lượng tập thể. Đây là cơ chế không bắt buộc, các bên thương lượng có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể sử dụng khi họ thấy phù hợp hoặc không sử dụng nếu họ không muốn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 73 việc yêu cầu thành lập Hội đồng thương lượng để điều phối, hỗ trợ quá trình thương lượng phải được cả hai bên thương lượng đồng thuận. Nếu chỉ có một bên muốn thành lập hội đồng mà bên kia không muốn thì việc thành lập hội đồng thương lượng cũng không đặt ra.

Địa chỉ để các bên yêu cầu thành lập hội đồng thương lượng tập thể là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 73, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi nhận được yêu cầu là phải thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia. Về cơ bản, thành phần của Hội đồng thương lượng do chính các bên quyết định, trong đó có chủ tịch hội đồng, đại diện các bên và đại diện ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định này là hợp lý vì bản chất hội đồng thương lượng không có quyền lực để quyết định về những nội dung thương lượng tập thể. Những nội dung thương lượng tập thì vẫn hoàn toàn do các bên thương lượng quyết định. Hội đồng chỉ điều phối, hỗ trợ quá trình thương lượng mà không quyết định về những nội dung thương lượng. Điều quan trọng là hội đồng phải bảo đảm được hiệu quả và duy trì được sự tin cậy của các bên thương lượng xong thông qua sự chuyên nghiệp và trung lập của mình. Chủ tịch hội đồng do các bên quyết định chính là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm sự tin cậy của các bên.

Khoản 3 Điều 73 quy định hội đồng thương lượng tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thành công và thỏa ước lao động được ký kết thì việc giám sát và hỗ trợ việc thực hiện thỏa ước không phải lúc nào cũng đơn giản. Do đó điều luật mở đường cho việc tiếp tục duy trì sự tồn tại và hoạt động của hội đồng thương lượng trong trường hợp các bên có nhu cầu.

Hội đồng thương lượng là vấn đề hoàn toàn mới, lần đầu tiên được quy định tại Việt Nam nên bộ luật lao động chỉ quy định những vấn đề lớn, có tính nguyên tắc. Những nội dung cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, đặc biệt là hoạt động tác nghiệp của hội đồng thương lượng sẽ do Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội quy định. Ngày 12/11/2020, Bộ lao động thương binh và xã hội đã ban hành thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về nội dung của hợp đồng lao động, hội đồng thương lượng và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây