Thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng lao động

0
693

Tóm tắt câu hỏi:

Em muốn nhờ giải đáp vấn đề sau a .Em có nộp hồ sơ xin việc vào vị trí nhân viên thu ngân tại media mart. Sau đó em đi phỏng vấn.công ty yêu cầu nếu đi làm thì nộp bản chính bằng tốt nghiệp,và cam kết làm việc ít nhất 6 tháng, nếu nghỉ giữa chừng bị phạt 1 tháng lương, em đồng ý như trên

Khi đi làm thì mới biết nếu thu ngân thiếu tiền sẽ bị phạt phải đền số tiền thiếu.dịp cuối
năm nên rất đông người mua hàng. Em làm được 3 hôm thi thấy áp lực rất lớn. Hôm thứ 3 thì thừa
tiền, e rất lo lắng nên đã xin nghỉ việc .Em đã trình bày lí do như vậy nhưng không được chấp
nhận, nếu nghỉ sẽ phải nộp phạt 1 tháng lương 2,5 triệu. Vậy nhờ các luật sư tư vấn cho em xem e bị
phạt như thế có đúng không. Công ty media mart làm như vậy có đúng pháp luật không

Trả lời câu hỏi:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến V-Law,
trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:
 

Về phía công ty

Căn cứ Điều 20 Bộ luật Lao động 2012  quy định những hành vi người sử dụng lao động không được
làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

” 1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc
thực hiện hợp đồng lao động.”

Như vậy, sai phạm của công ty là giữ bản chính bằng tốt nghiệp của bạn và thỏa thuận giữa
bạn và công ty là làm việc ít nhất 6 tháng và nếu nghỉ giữa chừng sẽ phạt 1 tháng lương là
không phù hợp và không có giá trị.

Về phía bạn

Bạn chưa cung cấp thông tin bạn giao kết hợp đồng với công ty với thời hạn là bao
lâu.

Căn cứ  Điều 22
quy định:

“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời
hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời
điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12
tháng.” 

Điều 37 Bộ luật lao động quy định các trường hợp
người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa
vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện
làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng
lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao
động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ
máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo
hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả
năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động
phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1
Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với
các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng
lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày,
trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.” 

Như vậy, nếu bạn muốn chấm dứt hợp đông lao động thì tùy thuộc vào loại hợp đồng bạn ký kết
với công ty để thực hiện đúng thời gian báo trước khi nghỉ việc.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Việt
về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Thỏa thuận của các bên khi giao kết
hợp đồng lao động
. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng
liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến – Số điện thoại liên hệ
1900.6198
 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây