Quy định về thương lượng tập thể không thành

0
530
Rate this post

Bài viết bình luận quy định của Bộ luật lao động về thương lượng tập thể không thành, thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể.

     Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật lao động gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quy định về thương lượng tập thể không thành

Điều 71 Bộ luật lao động năm 2019 đã quy định như sau:

(i) Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 70 của Bộ luật này;

Đã hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này mà các bên không đạt được thỏa thuận;

Chưa hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng không đạt được thỏa thuận.

(ii) Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.

Bình luận quy định về thương lượng tập thể không thành

Điều 71 Bộ luật lao động năm 2019 về thương lượng tập thể không thành bao gồm hai nội dung chính: một là quy định về trường hợp cụ thể được xác định là thương lượng tập thể không thành và hai là quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp thương lượng tập thể không thành.

Trường hợp đầu tiên được quy định là thương lượng không thành là trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật là 30 ngày kể từ ngày có yêu cầu thương lượng. Đây thực chất là trường hợp bên từ chối thương lượng đã vi phạm pháp luật do việc phải tiến hành thương lượng trong thời gian luật định là nghĩa vụ pháp lý của bên nhận được yêu cầu thương lượng. Hành vi vi phạm pháp luật này có thể bị xử lý và áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về phương diện quan hệ lao động, nó được xác định là một trường hợp thương lượng tập thể không thành và thủ tục giải quyết tranh chấp lao động có thể được kích hoạt, bao gồm quá trình hòa giải, Trọng tài và cả việc bên người lao động là bên bị vi phạm thì họ vẫn có thể thực hiện quyền đình công theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp khác được xác định là thương lượng tập thể không thành là những trường hợp đã hết tổng thời gian 90 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật lao động mà các bên không đạt được thỏa thuận; hoặc trường hợp chưa hết thời hạn 90 ngày nêu trên, xong các bên thương lượng không thấy có cơ hội đạt được thỏa thuận thông qua thương lượng nên cũng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận.

Khoản 2 Điều 71 quy định khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của bộ luật lao động. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công. Bản chất của quy định này là xác định trong trường hợp thương lượng không thành thì có nghĩa là một tranh chấp về lợi ích đã xuất hiện. Và do đó, toàn bộ trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về lợi ích có thể được các bên sử dụng để thúc đẩy cho việc đạt được thỏa thuận trong thương lượng tập thể.

Đây là điểm rất đặc thù của tranh chấp lao động so với các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại thông thường. Trong dân sự, kinh doanh, thương mại, việc các bên không đạt được thỏa thuận trong quá trình đàm phán hợp đồng không trở thành những tranh chấp dân sự hay kinh doanh, thương mại. Nếu đàm phán thành thì có hợp đồng, nếu không thành thì không có hợp đồng, mà không phát sinh tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, trong quan hệ lao động, nếu các bên thương lượng tập thể để tiến tới ký thỏa ước lao động tập thể mà không thành thì pháp luật lại xem đây là một tranh chấp lao động và được định nghĩa là tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và các quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp như hòa giải, trọng tài có thể được áp dụng để giải quyết. Và như vậy, bản chất của việc giải quyết tranh chấp trong trường hợp này là quá trình hỗ trợ, thúc đẩy cho các bên đạt được thỏa thuận trong thương lượng tập thể, khác với việc giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, bản chất của việc giải quyết tranh chấp là khôi phục lại những quyền lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại do hành vi vi phạm hoặc không thực hiện hợp đồng gây ra.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây