Người sử dụng lao động có cần báo lý do chấm dứt hợp đồng lao động hay không?

0
971
Rate this post
Luật sư tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc liên
quan đến lĩnh vực lao động. Tư vấn luật lao động qua phương thức: trực tuyến qua tổng đài, trực
tiếp tại văn phòng và qua phương tiện khác.


Tóm tắt câu hỏi:

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động buộc em thôi việc. Trong khi em là người lao động lại không hề được biết đến lý do. Vậy
xin hỏi em có được kiến nghị và kiến nghị ở đâu. Và em có được bồi thường gì không ạ? Em xin cảm ơn
luật sư.

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập
– Phòng tư vấn trực tuyến của V-Law. Với thắc mắc của bạn, tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như
sau:

Theo quy định tại Điều 38, Bộ luật lao động 2012 đã
xác định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như
sau:

” 1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành
công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị
12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06
tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời
hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì
người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất
khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc
phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc
sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động
không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác
định thời hạn;

 

1900.6198

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công
việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

Như vậy, trong trường hợp khi đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động biết về lý do mà người
sử dụng lao động đơn phương chấm dứt. Bởi phải đúng những quy định về những trường hợp được đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động 2012 thì mới được chấm dứt hợp đồng. Khi
không đúng những trường hợp luật quy định mà người sử dụng lao động vẫn đơn phương chấm dứt hợp
đồng thì đó thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng trái luật. Cụ thể tại Điều 42, Bộ luật lao động
2012 về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật :

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc
theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong
những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng
lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục
làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải
trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn
nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại
khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận
khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để
chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã
giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi
thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao
động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo
trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao
động trong những ngày không báo trước”.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật liên quan
đến chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thực hiện việc thông
báo lý do cho người lao động nghỉ, khi không thông báo như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền của người lao
động. Bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu người sử dụng lao động cho bạn biết lý do để xác định việc cho
nghỉ như vậy có đúng với quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao
động hay không. Nếu không đúng thì bạn có quyền yêu cầu xem xét lại quyết định cho nghỉ việc hoặc
yêu cầu công đoàn của công ty mình đang làm việc giúp đỡ.

Lưu ý: Ý kiến của Luật sư, văn bản pháp luật được
trích dẫn trong tư vấn nêu trên có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm tham khảo bài viết. Để được tư
vấn, lắng nghe ý kiến tư vấn chính xác nhất và mới nhất từ các Luật sư vui lòng liên hệ với chúng
tôi qua Hotline: 1900.6198. Các Luật sư chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm của
chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ bạn ngay lập tức!

Bạn cũng có thể tham khảo thêm thông tin các dịch vụ tư vấn
về luật lao động của chúng tôi.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây