Báo tăng lao động khi hết thời gian nghỉ chế độ thai sản

0
1357
Rate this post

Khi nghỉ hết thời gian thai sản, người lao động phải làm việc lại bình thường. Trong trường hợp này, công ty phải thực hiện việc báo tăng lao động hết thai sản.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Khi nào doanh nghiệp phải báo tăng lao động?

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 98 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì DN phải thông báo bằng văn bản với cơ quan bảo hiểm xã hội khi có thay đổi thông tin tham gia bảo hiểm xã hội. Tăng/giảm lao động đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là một trong những trường hợp mà DN phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan BHXH. Cụ thể: Tăng lao động đóng bảo hiểm được hiểu là tăng số lượng người lao động tham gia đóng bảo hiểm. Ví dụ: Doanh nghiệp giao kết hợp đồng lao động với người lao động; Người lao động đi làm sau khi nghỉ thai sản, nghỉ ốm đi làm lại; Người lao động hết thời hạn được tạm ngừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất; Người lao động xin nghỉ không lương từ 14 ngày trở ldên đi làm trở lại; Người lao động hết thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng đi làm trở lại,…

Doanh nghiệp có thể lập hồ sơ phát sinh tăng, điều chỉnh lao động, tiền lương của tháng vào tất cả các ngày trong tháng qua hệ thống giao dịch điện tử. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản và tiến hành đăng ký điều chỉnh với cơ quan BHXH.

Quy định pháp luật về báo tăng lao động khi hết thời gian nghỉ thai sản

Căn cứ theo Khoản 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH quy định: “Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động….”. 

Căn cứ theo Điểm 1.2 Khoản 1 Điều 32 Quyết định 595/QĐ-BHXH quy định: “1. Đơn vị sử dụng lao động…1.2. Kê khai hồ sơ: a) Đăng ký, điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT hằng tháng: theo quy định tại Điều 23″.

Theo các quy định pháp luật trên, nếu lao động nữ quay trở lại làm việc sau khi nghỉ xong chế độ thai sản khi sinh con thì đơn vị sử dụng lao động phải điều chỉnh tăng lao động. Theo đó, thành phần hồ sơ báo tăng lao động bao gồm: Phiếu giao nhận hồ sơ (Mẫu 103, 02 bản); Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT (Mẫu D02-TS, 01 bản); Tờ khai tham gia BHXH, BHYT đối với người tham gia BHXH lần đầu (mẫu TK1-TS, 01 bản/người); Tờ khai thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT đối với người đã có sổ BHXH từ tỉnh khác chuyển về (mẫu TK2-TS, 01 bản/người); Văn bản giải trình của đơn vị (mẫu D01-TS, 01 bản) đối với trường hợp chậm báo tăng từ 3 tháng trở lên Hồ sơ trên được nộp cho cơ quan BHXH Quận, Huyện nơi công ty đặt trụ sở chính.

Hậu quả pháp lý khi chậm báo tăng lao động

Hàng tháng, DN sẽ trích tiền đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN trên quỹ tiền lương tháng của những người lao động tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN; đồng thời, trích từ tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN của từng người lao động theo mức quy định để nộp cho cơ quan BHXH. Thời hạn đóng tiền BHXH, BHYT, BHTN chậm nhất là đến ngày cuối cùng của phương thức đóng (theo tháng, theo quý, 06 tháng một lần).

Do đó, trường hợp DN chậm báo tăng lao động dẫn đến việc chậm đóng, đóng thiếu bảo hiểm cho NLĐ là vi phạm quy định về đóng BHXH bắt buộc, BHTN.

Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 38 Nghị định 28/2020/NĐ-CP thì Người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng khi có hành vi sau: Chậm đóng BHXH bắt buộc, BHTN; Đóng BHXH, BHTN không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN mà không phải là trốn đóng.

Đây là mức phạt tiền được áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, đối với DN vi phạm sẽ bị áp dụng mức phạt gấp đôi mức phạt nêu trên (tối đa không quá 150.000.000 đồng), theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 28/2020/NĐ-CP.

Ngoài ra, DN còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây