Tiền lương của người lao động khi làm thêm giờ

0
610

Thời gian làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của người lao động luôn là một vấn đề được xã hội quan tâm, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc cũng như sức khỏe của người lao động. Theo quy định pháp luật, người sử dụng lao động có thể sử dụng người lao động làm thêm giờ nhưng thời gian làm việc tối đa không quá 12 tiếng/ngày.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198

Như thế nào thì được coi là làm thêm giờ?

Làm thêm giờ hay còn gọi là tăng ca là việc người sử dụng lao động điều động người lao động làm việc ngoài thời gian 8 tiếng/ngày do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, và người lao động được hưởng tiền lương cao hơn so với thời giờ làm việc bình thường.

Trên thực tế, làm thêm giờ hay tăng ca không chỉ xuất phát từ nhu cầu của người sử lao động mà nó còn xuất phát từ nguyện vọng của người lao động.

Thời gian làm thêm giờ

Người sử dụng lao động có thể sử dụng người lao động làm thêm giờ nhưng thời gian làm việc tối đa không quá 12 tiếng/ngày. Khi sử dụng người lao động làm thêm giờ người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ cho người lao động.

Theo điều 106 Bộ luật Lao động 2012, pháp luật lao động cũng nêu ra điều kiện để làm thêm giờ bao gồm:

Được sự đồng ý của người lao động;

Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động: không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, nếu làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.

Mức lương của người lao động khi làm thêm giờ

Làm thêm giờ đòi hỏi lượng hao phí sức lao động lớn hơn và có thể làm ảnh hưởng tới nhiều mối quan hệ khác của người lao động. Vì thế, tiền lương làm thêm giờ thường cao hơn một cách đáng kể so với tiền lương làm việc trong giờ tiêu chuẩn.

Khoản 3 Điều 97 Bộ luật lao động năm 2012 và Điều 25 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động quy định mức lương làm thêm giờ tương ứng với những thời gian làm thêm giờ khác nhau.

Cụ thể, người lao động làm thêm giờ được tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

  • Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
  • Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
  • Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

(i) Đối với người lao động hưởng lương theo giờ

Tiền lương làm thêm giờ vào ngày thường, ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương được tính lương theo thời gian như sau:
Tiền lương làm thêm giờ = Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường * Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% * Số giờ làm

Trong đó:

Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm của tháng mà người lao động làm thêm giờ chia cho số giờ thực tế làm việc trong tháng.

Trường hợp trả lương theo ngày hoặc theo tuần thì tiền lương giờ thực trả được xác định trên cơ sở tiền lương thực trả của ngày hoặc tuần làm việc đó (trừ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm) chia cho số giờ thực tế làm việc trong ngày hoặc trong tuần.

(ii) Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm

Tiền lương làm thêm giờ = Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường * Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% * Số sản phẩm làm thêm

Trong đó:
– Mức ít nhất bằng 150% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày thường;
– Mức ít nhất bằng 200% so với đơn giá tiền lương sản phẩm vào ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần;
– Mức ít nhất bằng 300% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Nguyễn Đức Anh – Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.ti
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây